Dino Zoff về nhì đoạt Quả Bóng Bạc sau Johann Cruyff - chủ nhân Quả Bóng Vàng - năm 1973 nhờ thành tích giữ sạch lưới ở tuyển Italy suốt 21 trận liên tiếp. Kết quả này không bất ngờ bởi 1973 là năm Cruyff chói sáng giúp Ajax đoạt Cup C1 năm thứ ba liên tiếp và đánh bại chính Juventus của Zoff trong trận chung kết. Còn năm 1982, năm ông đoạt scudetto thứ sáu trong sự nghiệp cùng Juventus và là trụ cột của tuyển Italy vô địch World Cup, Zoff vẫn bị lu mờ trước đồng đội Paolo Rossi, người đoạt Quả Bóng Vàng nhờ thành tích ghi sáu bàn trên đường tới đỉnh vinh quang của tuyển Italy. Quyết định của France Football trao Quả Bóng Vàng cho Rossi khi đó bị giới chuyên môn đánh giá không cao, bởi Rossi đã vắng mặt suốt nửa đầu năm 1982 vì án phạt sau một nghi án bán độ và chỉ trở lại thi đấu vài tuần trước World Cup.
Roberto Carlos được xem là hậu vệ trái số một thế giới giai đoạn 1997-2002. Năm 2002, anh đoạt cú đúp danh hiệu đáng mơ ước nhất đời cầu thủ với chiến thắng cùng Real Madrid ở Champions League và tuyển Brazil ở World Cup. Nhưng năm đó, Ronaldo được trao Quả Bóng Vàng nhờ ghi 8 bàn trên đường cùng Brazil
chinh phục World Cup.
Trong giai đoạn 1987-1972, hai siêu sao của Milan là Ruud Gullit (một lần) và Marco van Basten (ba lần) đoạt cả thảy bốn Quả Bóng Vàng. Nhưng giới chuyên môn thời điểm đó đều cho rằng một trong bốn Quả Bóng Vàng đó xứng đáng được trao cho
Franco Baresi (áo đỏ đen). Không hậu vệ nào chơi hay như Baresi trong giai đoạn đỉnh cao của anh 1987-1992. Hàng thủ Milan khi đó được đánh giá là hàng thủ hay nhất thế giới và Baresi chính là thủ quân, thủ lĩnh tinh thần và là bộ não chỉ huy của hàng thủ đó.
Với hơn 15 năm sự nghiệp đỉnh cao, bảy scudetto và năm Cup C1/Champions League,
Paolo Maldini được xem như một trong những hậu vệ trái hay nhất mọi thời đại. Năm 1994 được xem là năm mà anh xứng đáng đoạt Quả Bóng Vàng nhất. Đó là thời điểm Maldini, chứ không phải Baresi hay Costacurta, thống lĩnh hàng thủ cùng Milan đè bẹp Barca 4-0 trong trận chung kết Champions League. Cùng năm, anh tiếp tục chói sáng trong màu áo tuyển Italy vào tới chung kết World Cup ở Mỹ, nơi Baresi chỉ góp mặt từ trận bán kết thắng Brazil. Nhưng năm đó, Quả Bóng Vàng được trao cho Hristo Stoichkov, thủ lĩnh của tuyển Bulgaria bất ngờ vào tới bán kết World Cup nhưng là người bị chính Maldini kèm chết ở trận chung kết Champions League.
Lilian Thuram là hòn đá tảng trong hàng phòng ngự tuyển Pháp vô địch World Cup 1998 rồi Euro 2000 và chơi ổn định trên đỉnh cao suốt sáu năm sau đó. Nhưng ở thời kỳ anh thăng hoa rực rỡ nhất, Thuram vẫn không thể vượt qua cái bóng quá lớn của Zinedine Zidane – chủ nhân Quả Bóng Vàng các năm 1998 và 2000.
Giống Xavi hay Iniesta hiện tại, bóng đá Tây Ban Nha sản trong những năm 1950, 1960 cũng sản sinh ra rất nhiều tài năng ở tuyến giữa. Sáng giá hơn cả là Luis Suarez, người thường xuyên có tên ở các đề cử cuối cùng và đoạt Quả bóng vàng năm 1960. Nhưng
Francisco Gento, người được xem như một trong những tiền vệ trái hay nhất lịch sử - thì chưa bao giờ vượt quá vị trí thứ tám trên bảng tổng sắp bình chọn Quả Bóng Vàng, bởi thời kỳ đó, ở Real Madrid, Gento không gây được chú ý lớn như các đồng đội quá nổi tiếng Raymond Kopa, Alfredo Di Stefano hay Ferenc Puskas.
Bốn mươi năm trước, như Xavi bây giờ,
Gunter Netzer được xem như tiền vệ hay nhất bóng đá thế giới. Trận thắng Anh 3-1 ở tứ kết Euro 1972 trên sân Wembley là màn trình diễn ấn tượng nhất của tiền vệ đội Borussia Monchengladbach trên hành trình cùng Tây Đức đăng quang tại giải đấu này. Nhưng khi đó, Netzer cùng đồng đội Gerd Mueller chỉ chia sẻ Quả Bóng Bạc, vì về sau một đồng đội khác, thủ quân Franz Beckenbauer, người đoạt Quả Bóng Vàng đầu tiên trong hai lần liên tiếp ông chiến thắng ở cuộc bình chọn của France Football.
Tương tự Baresi,
Frank Rijkard (phải) cũng được đánh giá là xứng đáng đoạt ít nhất một Quả Bóng Vàng trong kỷ nguyên Arrigo Sacchi dẫn dắt Milan cuối 1980 đầu 1990. Đóng vai trò ông chủ tuyến giữa, Rijkaard khi đó
quan trọng với Milan không kém hai đồng hương còn lại trong bộ ba người Hà Lan Bay là Van Basten – Gullit. Anh còn là chủ nhân của bàn duy nhất, quyết định thắng lợi cho Milan trong trận chung kết Cup C1 với Benfica năm 1990.
Alain Giresse là một trong bốn đỉnh của hình vuông huyền ảo của tuyển Pháp, bên cạnh Jean Tigana, Luis Fernandez và Michel Platini giai đoạn 1982-1986. Với bộ tứ này, “Những chú gà trống Gaulois” vào tới bán kết World Cup 1982, 1986 và vô địch Euro 1984. Nhưng khi đó, tài năng của Giresse vẫn chưa đủ mạnh để gây ấn tượng với các nhà báo bình chọn Quả Bóng Vàng của tờ France Football – những người bầu cho Platini đoạt phần thưởng này ba năm liên tiếp từ 1983 đến 1985.
Kenny Dalglish là huyền thoại sống của bóng đá Scotland và Liverpool, khi ông truyền cảm hứng giúp Liverpool đoạt tới ba Cup C1 (1978, 1981 và 1984). Trong các chiến công này, chiến thắng năm 1978 là hiển hách nhất khi Dalglish ghi bàn duy nhất giúp Liverpool hạ Brugge 1-0 ở trận chung kết. Mùa 1977-1978 cũng ghi dấu đỉnh cao trong sự nghiệp tiền đạo người Scotland khi ông ghi tới 31 bàn trên mọi mặt trận. Nhưng ông khi đó chỉ xếp thứ tám trên thứ tự bình chọn Quả Bóng Vàng 1978, phần thưởng được trao cho Kevin Keegan, người cùng Hamburg thua tan nát 0-6 trước Liverpool của Dalglish ở trận tranh Siêu Cup châu Âu.
John Charles là một trong những cầu thủ hay nhất trong lịch sử bóng đá Liên hiệp Anh và từng được bầu làm Cầu thủ nước ngoài hay nhất lịch sử Serie A, trên cả Maradona và Platini. Giới chuyên môn cho rằng với 105 bàn ghi cho Juventus và ba scudetto từ 1957 đến 1962, Charles xứng đáng đoạt được ít nhất một Quả Bóng Vàng trong giai đoạn này. Nhưng do Juventus không thành công ở các Cup châu Âu thời đó, tiền đạo người Xứ Wales chỉ có thể đoạt Quả Bóng Đồng ở cuộc bình chọn năm 1959.
Minh Kha